21/4/11

Lào Cai ảnh hưởng dư chấn động đất ở Vân Nam

Vào lúc 23 giờ 27 phút đêm 19/4, trên địa phận thành phố Lào Cai (tỉnh Lào Cai) đã có nhiều người dân cảm nhận được dư chấn của động đất với cảm giác như một xe tải chạy qua

Thành Phố Lào Cai
Sáng 20/4, ông Trần Phúc Thạnh, Giám đốc Đài Vật lý địa cầu Sa Pa xác nhận đêm 19/4, tại khu vực Tây Bắc tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) có xảy ra trận động đất mạnh 4,5 độ Richter, tâm chấn ở độ sâu 23km.
Trước đó, khoảng 21 giờ ngày 24/3, từ phía Vân Nam, Trung Quốc, cũng có trận động đất nhỏ, dư chấn tác động đến Lào Cai ở cấp 3, nên rất ít người cảm nhận được.
Cả hai đợt dư chấn này cường độ nhẹ và không gây thiệt hại về vật chất, nhưng ít nhiều đã có ảnh hưởng đến tâm lý của người dân Lào Cai.
Để giải thích rõ cho người dân, ông Nguyễn Phúc Thạch, Giám đốc Đài Vật lý địa cầu Sa Pa cho biết sau trận động đất ở Nhật Bản ngày 11/3 vừa qua, nhiều nơi trên thế giới đã xảy ra động đất với cường độ khác nhau, trong khi đó Lào Cai nằm trong vùng có nguy cơ xảy ra động đất và ảnh hưởng của động đất từ các vùng lân cận.
Từ trước đến nay, mặc dù chưa ghi nhận được chấn tâm động đất ở Lào Cai, nhưng nhiều vùng lân cận đã xảy ra và Lào Cai đã có một số lần bị ảnh hưởng. Trận động đất tại khu Tây Nam Trung Quốc tối 24/3 và 19/4 có thể do chuỗi các trận động đất tại Nhật Bản đã “kích hoạt” gây nên.
Cũng theo ông Trần Phúc Thạnh, khu vực Tây Bắc Việt Nam giới hạn từ sông Hồng đến sông Mã là vùng đã và đang trong quá trình hoạt động kiến tạo mạnh mẽ, có cấu trúc địa chất phức tạp. Lào Cai nằm trên đới đứt gãy sông Hồng-sông Chảy, là đới đứt gãy lớn, hoạt động mạnh nhất trên lãnh thổ Việt Nam.
Tại những đới đứt gãy, hoạt động kiến tạo diễn ra thường xuyên và đây là nguyên nhân cơ bản xảy ra động đất, lở núi… Vấn đề đặt ra là phòng, chống động đất như thế nào, chứ không phải là vấn đề có xảy ra hay không.
Từ năm 1983 đến 2010, Đài Vật lý địa cầu Sa Pa đã ghi nhận được gần 500 trận động đất có M (độ lớn) = 3.0-6.8 xảy ra ở vùng Tây Bắc và lân cận. Tại Tuần Giáo, Lai Châu, năm 1983 từng xảy ra động đất M 6.7, gần đây nhất là động đất ở Điện Biên có độ lớn M 5.3 ngày 19/2/2001 gây thiệt hại lớn. Các trận động đất trên đã gây chấn động cấp 6, cấp 7, cấp 8 trên diện tích rộng. Tất cả các trận động đất trên đều gây chấn động cấp 6 ở Lào Cai.
Theo các nhà địa chất, việc phòng, chống động đất không giống với phòng, chống lụt bão hàng năm, không thể hàng ngày dự trữ sẵn dụng cụ phòng chống. Đã đến lúc cần thiết đặt tiêu chuẩn kháng chấn cho các công trình xây dựng, công trình giao thông, quốc phòng.
Giải pháp trước mắt cũng như lâu dài ở Lào Cai nói riêng và các tỉnh miền núi nói chung là làm cho mỗi người dân hiểu biết về các biện pháp phòng, chống động đất, tức là đưa kiến thức phổ thông về động đất đến với từng người.

Biến đổi khí hậu trên các sông băng đang tan chảy

Những viên nước đá tinh khiết mà bạn thường bỏ vào ly để uống, nhìn có vẻ khá vững chắc. Nhưng nếu bạn đã có một khối tròn thực sự, thực sự lớn làm từ băng đá, thì nó thực sự có thể tan chảy một cách chậm rãi và trở thành một dòng sông băng. Trọng lực sẽ kéo nó xuống dưới.

Fiammetta Straneo, một nhà hải dương học, và là người đứng đầu nhóm nghiên cứu, làm việc ở Viện Hải dương học Woods Hole, tại Massachusetts, Hoa kỳ.

Những khối nước đá di chuyển được, được gọi là các dòng sông băng. Chúng tọa lạc ở những khu vực rất lạnh, hoặc những nơi rất cao như trên các ngọn núi hoặc ở gần Bắc cực và Nam cực. Bạn có thể đã thấy hình ảnh của các sông băng từ Vườn quốc gia Glacier, ở Montana, Hoa Kỳ. Hoặc có thể bạn biết ai đó đã làm một cuộc hành trình đến vùng Alaska lạnh giá.
Các nhà khoa học quan tâm đến các dòng sông băng, vì các khối băng này có thể được sử dụng để nghiên cứu sự nóng lên toàn cầu. Hàng năm, loài người đang thải ra nhiều khí CO2 vào bầu khí quyển của trái đất, bằng cách làm những việc như đốt than để lấy điện. Lượng khí CO2 này cũng giống như một tấm chăn khổng lồ trong không khí, có tác dụng giữ nhiệt và làm ấm cả hành tinh.
Hầu hết các hiện tượng ấm lên đã xảy ra ở các vùng lạnh giá của Trái đất, do đó, ở đó tồn tại các sông băng đang tan chảy. Các nhà nghiên cứu đang cố gắng nghiên cứu các con sông băng trước khi chúng biến mất.
Các nhà khoa học quan tâm đến các sông băng chảy vào đại dương, cũng giống như những gì bạn thấy trên cuộc hành trình đến Alaska. Khi các sông băng tan chảy, nước đá sẽ biến thành nước và chảy vào đại dương. Điều này làm cho mực nước biển tăng lên. Các nhà nghiên cứu lo lắng rằng các sông băng cùng tan chảy trong một ngày có thể làm tăng mực nước biển, dẫn tới rất nhiều thành phố ven biển, giống như Miami và New Orleans, có thể bị chìm dưới nước.
Nhưng các sông băng đáp ứng với hiện tượng nhiệt độ ấm hơn theo nhiều cách khác nhau. Trong khi một số sông băng bắt đầu tan chảy, chúng tăng tốc độ di chuyển của mình, và dòng chảy nhanh hơn để ra biển lớn, thì những con sông băng còn lại lúc đầu thì tan chảy nhanh, nhưng sau đó lại quá trình tan chảy bị chậm lại.
Các nhà khoa học về Băng làm rất nhiều việc ở Greenland, một hòn đảo tọa lạc ở biển Bắc Đại Tây Dương, ở giữa Hoa Kỳ và châu Âu. Greenland là hòn đảo lớn nhất thế giới, và có khoảng 80% bề mặt của nó được bao phủ bởi băng. Nếu tất cả băng ở phía trên Greenland tan chảy, thì mực nước biển sẽ tăng khoảng 6,096 m (hơn 6m), trên toàn thế giới.
Điều này sẽ không xảy ra trong một sớm một chiều, nhưng một số sông băng ở Greenland đã vận động khá tích cực trong thời gian gần đây. Một trong những sông băng di chuyển nhanh nhất trên thế giới, gọi là Jakobshavn (phát âm YAH-kubs-hav “un), nằm trên vùng bờ biển phía tây của Greenland.
Khi sông băng đi vào các đại dương, nó sẽ tan chảy và thải ra các núi băng đá có khối lượng lớn. Năm 1912, một tảng băng vỡ ra từ sông băng Jakobshavn, đã vỡ tan và làm chìm tàu Titanic.
Hiện nay, sông băng Jakobshavn đã thải ra nhiều núi băng trôi hơn so với trước đây. Các nhà khoa học không biết tại sao, nhưng trong cuối những năm 1990 các sông băng bắt đầu di chuyển nhanh hơn về phía biển. Nó bắt đầu tan chảy nhiều hơn và mỏng dần đi. Các nhà khoa học nghĩ rằng: rất nhanh chóng, sông băng Jakobshavn sẽ hoàn toàn ngừng chảy vào đại dương và thay vào đó, nó sẽ thấm trở lại vào đất. Sông băng “đang ở trong một vòng xoáy chết”, theo Ian Howat, nhà nghiên cứu sông băng, làm việc tại Đại học bang Ohio, ở Columbus, Hoa Kỳ.
Mỗi mùa hè, các nhà khoa học lại đến thăm sông băng Jakobshavn để đo đạc để tìm hiểu xem nó đang thay đổi như thế nào. Họ đặt các dụng cụ trên băng, để có thể đo tốc độ dòng chảy, và thu thập các hình ảnh về những thay đổi của sông băng từ năm này sang năm khác. Các nhà nghiên cứu đặt các trạm địa chấn trên băng, để đo những chấn động trong sông băng cho đến khi tảng băng hoàn toàn vỡ ra. Các nhà khoa học gọi đây là hiện tượng “những cơn địa chấn băng giá.
Các nhà nghiên cứu cũng muốn xem những gì sẽ xảy ra khi mà lớp băng trên đỉnh của sông băng tan chảy. Trong sức nóng của tia nắng mùa hè, các vũng nước đá lớn mới tan xuất hiện trên bề mặt của Greenland. Ở một số nơi, các vết nứt rộng ra và nước bị hút xuống thông qua các lớp băng còn lại giống như xoáy nước chảy xuống đường cống của bồn tắm nhà bạn.
Trong năm 2008, các nhà nghiên cứu làm việc tại Phòng thí nghiệm sức đẩy phản lực của NASA, ở Pasadena, California, Hoa Kỳ, muốn tìm hiểu lượng nước đá tan chảy này đi về đâu. Vì vậy, họ đã thả 90 duckies cao su, loại thường được dùng trong bồn tắm, vào các đường rãnh thoát nước trên sông băng Jakobshavn. Các nhà khoa học hy vọng các duckies có thể xuất hiện ở hạ lưu, trong đại dương bên dưới sông băng. Nhưng họ đã không có cơ hội nhìn thấy chúng một lần nữa.
Băng thì lạnh mà nước thì ấm: Các nhà nghiên cứu đang nghiên cứu các dòng sông băng nằm ở phía đông của đảo Greenland, tại một sông băng được gọi là Helheim. Giống như người anh em phía tây, gần đây sông băng Helheim đã bắt đầu chảy nhanh hơn. Nhưng không giống như Jakobshavn, dòng chảy của sông băng Helheim cuối cùng cũng bị chậm lại.
Sông băng Helheim chảy ra đại dương qua trung gian một hẻm núi hẹp, và đầy nước, được gọi là fjord (vịnh hẹp). Trong vài năm qua, một nhóm các nhà nghiên cứu đã được tham quan fjord. Fiammetta Straneo, một nhà hải dương học, và là người đứng đầu nhóm nghiên cứu, làm việc ở Viện Hải dương học Woods Hole, tại Massachusetts, Hoa kỳ.
Chúng tôi đang cố gắng tìm hiểu những yếu tố nào giúp kiềm chế được lượng băng đang tan chảy” ở các sông băng, Straneo giải thích. Vì vậy, cô thuê tàu đánh cá địa phương để đưa cô vào vịnh hẹp. Hiện cô thả các loại cáp dài vào trong nước để đo nhiệt độ của đại dương.
Khi cô được tiếp cận gần hơn với nơi mà sông băng gặp biển, thì cô nhận thấy: nơi này có rất nhiều núi băng trôi, rất nguy hiểm khi ở trong thuyền. Vì vậy, Straneo đã thuê máy bay trực thăng để bay đến cuối sông băng. Cô thả nhiều dụng cụ vào trong vùng nước trong vịnh hẹp để đo nhiệt độ một lần nữa.
Straneo đã phát hiện ra rằng các vùng nước trong vịnh hẹp là một trong những nơi ấm nhất ở Greenland. Các dòng nước ấm dường như là đến từ hàng trăm dặm ngoài khơi đảo Greenland và chảy vào vịnh hẹp. Khi sông băng tan chảy vào trong nước biển, băng sẽ tan nhanh hơn nếu nó nước nóng.“Điều này cũng giống như khi ta đặt một khối nước đá trong một bồn nước nóng”, cô nói.
Khi nhiệt độ trái đất tiếp tục tăng, các ụ nước nóng này cũng sẽ chỉ ấm hơn đôi chút. Vì vậy, các nhà khoa học sẽ có thể đến với Greenland trong những mùa hè tới. Chỉ có như thế, thì họ mới hiểu rõ hơn về các sông băng và những gì sẽ xảy ra với các sông băng này, trong quá trình biến đổi khí hậu.
Khoa học và nghệ thuật gặp nhau: Khi James Balog, lớn lên ở miền bắc New Jersey, ông không chỉ có một bộ sưu tập đá và khoáng sản như nhiều trẻ em khác. Mà ông cũng biết rằng các tảng đá dưới chân của ông được hình thành trong quá trình khi châu Âu và Bắc Mỹ đã tách rời ra xa nhau cách đây hàng trăm triệu năm.
Ngày nay, Balog là nhà khoa học, ông thích tự tìm tòi. Ông là một nhiếp ảnh gia, với dự án mới nhất“hành tinh chúng ta sẽ như thế nào khi các sông băng đang biến mất”. Ông đặt máy ảnh trên các sông băng và những nơi đóng băng khác để chụp ảnh phong cảnh. Một vài tháng hoặc vài năm sau đó, các thành viên dự án trở lại để lấy máy ảnh và lắp ráp các bức ảnh theo thời gian trôi đi đáng kể, bộ phim cho thấy sự tan chảy nhanh chóng của các sông băng này hoặc các sông băng khác đang tan chảy chậm lại. Ngay bây giờ, nhóm nghiên cứu đã gắn 31 máy ảnh ở những nơi đó có dãy núi cao như: Himalaya, Greenland, Iceland, Montana và Alaska.
Các bộ phim cũng chính là một nhân chứng mạnh mẽ, giải thích để làm thế nào mà thay đổi khí hậu ảnh hưởng đến các hành tinh. Các tính năng vốn đã có sẵn trong trong băng nhiều thế kỷ biến mất trong chớp mắt. “Toàn bộ đều được thúc đẩy bởi tôi muốn có thể cho con gái của tôi biết: tôi đã nhìn thấy khu vực băng giá này, tôi đã được ở những nơi đó, và tôi đã làm việc tốt nhất mà tôi để có thể,” theo Balog, hiện đang sống ở Boulder, Colorado , Hoa Kỳ, cùng với Emily: 9 tuổi và Simone: 22 tuổi.
Tính chất khoa học: Tôi biết những gì tôi đang nói về, bởi vì tôi có bằng thạc sĩ về địa mạo học. Điều này có nghĩa tôi đã trải qua một vài năm học thêm sau đại học, cụ thể nghiên cứu địa chất và tính năng động của Trái Đất.
Tính chất nghệ thuật: Tôi đã luôn quan tâm đến thế giới tự nhiên. Cuốn sách ảnh của tôi bao gồm: làm việc trên những cây lớn nhất thế giới và mối quan hệ giữa tinh tinh và con người.
Vì vậy, làm thế nào để có được cả tính chất khoa học và nghệ thuật trong cuốn sách ảnh? “Điều quan trọng nhất là người chụp ảnh phải có tính tò mò, phải có trí tưởng tượng và phải có năng lực,” Balog nói. “Tôi cũng nghĩ rằng xã hội nhìn bao quát cũng có trường hợp con người ta dễ bị rối loạn khi ít tiếp xúc thiên nhiên, khi mà người ấy đã quên đi những kết nối với những gì thực sự mang đến cho chúng ta sự sống.”
Vì vậy, bạn hãy lập tức tắt máy vi tính, ông nói, và đi ra bên ngoài thiên nhiên để chơi đùa và khám phá.

Phát hiện vụ nổ kỳ lạ tại một thiên hà xa xôi

Các nhà thiên văn học đã chứng kiến một vụ nổ kỳ lạ trong vũ trụ đến nỗi họ thậm chí không biết phải đặt tên gì cho đúng với bản chất của vụ nổ. Dù rằng, vụ nổ này được vệ tinh Swift của NASA phát hiện vào ngày 28 tháng 3 năm 2011, nhưng nó vẫn phát ra năng lượng bức xạ cao giống như một vụ nổ tia gamma, và sự kiện này đã kéo dài trong 11 ngày. Tia Gamma cuối cùng bùng nổ trong khoảng thời gian chừng 30 giây.

Pháo hoa trong Vũ trụ: Toàn cảnh mô tả một vụ nổ vũ trụ khó hiểu kết hợp hình ảnh từ vệ tinh Swift: kính thiên văn quang học/cực tím (trắng và tím) và kính viễn vọng X-quang của nó (màu vàng và đỏ), được chụp trong khoảng thời gian 3,4 giờ vào ngày 28 tháng 3 năm 2011

Đặc điểm không giống như một vụ nổ tia gamma là: vụ nổ đã phai tàn và sau đó lại bùng sáng, và phát ra các xung bức xạ năng lượng ngắt âm kéo dài hàng trăm giây.
Đây có thể là hiện tượng chúng tôi chưa từng thấy hoặc là sự kiện quen thuộc mà chúng tôi chưa bao giờ quan sát theo cách này trước đây,” theo Andrew Fruchter, làm việc tại Viện Khoa học Kính viễn vọng không gian, ở Baltimore, Hoa Kỳ. Vụ nổ này có thể đã được tạo ra bởi một ngôi sao bị xé tan thành từng mảnh khi mạo hiểm tới quá gần một lỗ đen trong thiên hà, theo Andrew Fruchter. Lượng khí từ ngôi sao này khi rơi vào trong lỗ đen có thể đã gây ra một lực hút khổng lồ, và phát ra một luồng tia X và tia gamma mà điều đó tình cờ lại xảy ra tại thời điểm mà các nhà nghiên cứu đang quan sát hiện tượng này trực tiếp từ Trái Đất.

Một hình ảnh bước sóng vô tuyến được chụp vào ngày 29 tháng 5, cùng với một hình ảnh khác được chụp bởi Kính viễn vọng Hubble trong ánh sáng có thể nhìn thấy vào ngày 04 Tháng 4, hỗ trợ cho việc nghiên cứu. Các hình ảnh cho thấy vụ nổ đã diễn ra cách Trái Đất khoảng 3,8 tỉ năm ánh sáng, tại trung tâm của một thiên hà, nơi tồn tại một lỗ đen siêu lớn, mặt khác, cũng có thể là ngôi sao đã bị xé nát bởi một lỗ đen nhỏ hơn, Fruchter ghi chú.
“Tình trạng vụ nổ đã phai tàn và sau đó lại bùng sáng là kết quả của một ngôi sao bị xé vụn dưới tác dụng của một lỗ đen nghe có vẻ hợp lý,” theo Andrew MacFadyen, làm việc tại Đại học New York, Hoa Kỳ. Thời gian của vụ nổ “là nhiều hơn bất cứ điều gì mà chúng tôi có thể mong đợi từ sự sụp đổ của một ngôi sao duy nhất,” đó là mô hình truyền thống để làm phát sinh một vụ nổ tia gamma, Andrew MacFadyen nói.
Tuy nhiên, theo Stan Woosley, làm việc tại Đại học California, Santa Cruz, Hoa Kỳ, cho rằng sự kiện này có thể được giải thích: bởi sự sụp đổ của một ngôi sao khổng lồ là do tác dụng của lực hút bên trong lỗ đen, một phiên bản thu nhỏ của quá trình đó thường tạo ra một vụ nổ tia gamma. Trong kịch bản của woosley, lõi của ngôi sao khổng lồ sụp đổ để tạo thành lỗ đen nhưng phải mất 11 ngày để cho lớp vỏ ngoài của ngôi sao này sụp đổ và phát ra bức xạ, điều này giải thích lý do tại sao các nhà thiên văn học quan sát được vụ nổ trong một khoảng thời gian dài khác thường.

16/4/11

Nước biển Việt Nam bị nhiễm phóng xạ?

Các nhà khoa học khẳng định thời gian trước mắt nước biển của Việt Nam không bị nhiễm phóng xạ và sinh vật trên biển thuộc địa phận của Việt Nam cũng không bị ảnh hưởng. PGS.TS Vương Hữu Tấn, Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam cho biết, ngay sau khi biết tin Công ty Điện lực Tokyo (TEPCO) của Nhật Bản xả 11.500 tấn nước nhiễm phóng xạ nhẹ từ nhà máy điện nguyên tử Fukushima I ra biển Thái Bình Dương, Viện đã chỉ đạo kiểm tra sự nhiễm xạ trong nước biển tại Bà Rịa - Vũng Tàu và Ninh Thuận, song không phát hiện phóng xạ trong nước biển.

Biển Việt Nam vẫn an toàn trước phóng xạ (Ảnh: Như Ý)
Theo tính toán về các dòng chảy trên thế giới, GS.TS Đinh Văn Ưu, Khoa Khí tượng – Thủy văn – Hải dương học, Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, không có dòng nước nào phía Đông Nhật Bản chảy thẳng về phía biển Việt Nam.
“Về lâu dài không thể nói được điều gì, nhưng trong khoảng thời gian vài ba tháng sẽ không lo ngại bị ảnh hưởng. Lý do, nước chảy về phía Đông Bắc, do vậy sẽ phải chảy sang Mỹ trước, sau đó mới quay về Việt Nam nên việc nước nhiễm phóng xạ chảy về Việt Nam có thể không xảy ra”, GS Ưu khẳng định.
GS Ưu cũng cho biết, do hoàn lưu trong nước khác so với không khí, vì thế về lâu dài, khả năng nước biển nhiễm phóng xạ từ Nhật Bản chảy về Việt Nam cũng hiếm. Tồn tại lâu trong nước, độ phóng xạ có thể bị khuếch tán. Tuy nhiên, điều mà GS Ưu thực sự lo ngại đó là lượng phóng xạ sẽ bị nhiễm vào tôm, cá và các sinh vật khác thuộc vùng biển của Nhật Bản.
Kết quả đo nước biển nhiều ngày nay tại các đơn vị thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy chưa phát hiện phóng xạ trong nước biển tại Việt Nam. Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt cũng thường xuyên lấy mẫu nước biển tại Ninh Thuận chưa phát hiện ra phóng xạ trong nước biển.
Tiến sỹ Nguyễn Nhị Điền, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt cho biết: Việc lấy mẫu kiểm tra được tiến hành cả tuần qua nhưng chưa phát hiện phóng xạ trong nước biển. Nhật Bản thải nước phóng xạ ra biển nhưng ở nồng độ thấp, có chăng phóng xạ chỉ ở vùng gần khoảng 30km so với nơi thải ra.
Không lo cá, tôm nhiễm phóng xạ
Nhiều người tỏ ra lo ngại về việc, cá tôm hay các sinh vật trong biển của Việt Nam bị nhiễm phóng xạ, GS Nguyễn Tác An, nguyên Viện trưởng Viện Hải dương học Nha Trang, khẳng định không ngại việc này.
Theo GS An, về nguyên tắc, dòng chảy về biển Đông của Việt Nam vẫn có khả năng chuyển tải lượng phóng xạ, nhưng với lượng phóng xạ như hiện nay, nếu về đến Việt Nam thì cũng không có gì đáng ngại. Với các loài cá thuộc biển của Nhật Bản là giống cá xứ lạnh, chúng không thể vào biển của Việt Nam. “Nhiệt độ và độ mặn là rào ngăn cản sinh vật, do vậy cá Nhật Bản nếu vào biển Việt Nam sẽ bị chết ngay. Đây còn gọi là rào cản sinh thái. Chỉ ngại một việc cá đánh từ biển Nhật Bản thì cũng cần lưu tâm”, GS An nói.

Cho đến nay đa phần các trạm quan trắc của CTBTO ở Bán Cầu Bắc đều đã phát hiện hạt nhân phóng xạ, được biểu thị trong hình.
Những thông tin mới nhất về tình hình phóng xạ môi trường tại Nhật Bản cho thấy, mức độ phóng xạ đo được ngoài khơi Fukushima đã lên mức cao nhất trong vòng 3 tuần qua. Cụ thể tại điểm lấy mẫu cách nhà máy Fukushima I 30 km về phía Đông, ngày 11.4 đã đo được I-131 ở mức 88,5 Bq/l, gấp 2,2 lần giới hạn cho phép đối với nước thải từ cơ sở hạt nhân.
Cs-137 đo được cũng ở mức cao nhất trong vòng mấy tuần qua, nhưng vẫn nhỏ hơn giới hạn cho phép. Tại điểm lấy mẫu cách nhà máy 15 km, I-131 ở mức gấp 23 lần giới hạn cho phép.
Trong khi đó, kết quả đo phóng xạ trong vùng biển gần nhà máy có xu hướng giảm nhanh. Ngày 11.4, kết quả đo I-131 và Cs-137 tại các điểm gần nhà máy đều dưới 1,5 kBq/l, còn tại điểm đo cách cổng xả của Tổ máy 5 và 6 khoảng 30 m là khoảng 7 kBq/l.

Nguy cơ sóng thần đông bắc Nhật 'không được lường trước'

Trên tạp chí khoa học uy tín thế giới, một nhà địa chấn học Mỹ làm việc tại đại học Tokyo, cho rằng các nhà địa chấn Nhật đã chìm trong những niềm tin cũ, không nhận thấy nguy cơ xảy ra siêu động đất và sóng thần ngày 11/3.

Robert Geller, giáo sư địa chấn học tại đại học Tokyo, viết trên tờ The Nature rằng các nhà khoa học Nhật đã bị gắn chặt với giả thiết về nguy cơ xảy ra động đất lớn ở bờ biển phía nam nước này.
Điều đó khiến hạn chế tầm nhìn của họ đối với các nguy cơ động đất sóng thần ở phía đông bắc, nơi cơn địa chấn mạnh 9 độ Richter kéo theo sóng thần đã khiến 27.000 người chết và mất tích.
Geller cho rằng không nên đặt niềm tin vào một giả thuyết đã tồn tại nhiều chục năm nay, rằng Nhật Bản đối mặt với nguy cơ động đất cực mạnh tại mảng kiến tạo ở bờ biển phía nam đảo Honshu và Shikoku.
Bản đồ nguy cơ thiên tai của chính phủ Nhật khoanh vùng Tokai, Tonankai và Nankai là "vùng động đất", được nhấn mạnh trong các chiến dịch truyền thông nhằm tăng nhận thức cho dân chúng và đã trở thành một định kiến sâu xa.



Bản đồ xác định nguy cơ địa chấn của Nhật Bản. Đồ họa: The Nature

Tuy nhiên theo ông Geller, các bản đồ này dựa trên hai tiền đề có từ những năm 1960 và 70 của thế kỷ trước, và lại không có căn cứ vững chắc.
"Điều này khiến công chúng hiểu sai, tin rằng chắc chắn sẽ có một ngày có trận động đất tới 8 độ Richter sẽ xảy ra ở tỉnh Tokai, trong tương lai gần", AFP dẫn lời ông.
Tuy nhiên Geller tính toán rằng từ năm 1975 đến nay, không có một trận động đất lớn nào xảy ra trong ba khu vực mà các nhà khoa học của chính phủ Nhật cho là những vùng nguy hiểm nhất.
Ngược lại, tất cả những trận địa chấn gây chết trên 10 người ở Nhật từ năm 1979 đén nay đều xảy ra ở những khu vực được cho là chỉ có nguy cơ thấp.
Nếu như các nhà khoa học lục lại biên niên sử, họ sẽ thấy rằng những cơn sóng thần gây ra bởi động đất đã lặp đi lặp lại việc tấn công vào vùng đông bắc Nhật trong nhiều thế kỷ qua, thì siêu động đất và sóng thần ngày 11/3 vừa rồi "đã có thể được đoán trước, dù là một cách chung chung", ông Geller nói.
Việc dự đoán thời điểm và vị trí động đất là không thể, nhưng ít nhất, mối đe dọa đó có thể được cân nhắc tính đến trong việc thiết kế nhà máy điện hạt nhân Fukushima, Geller bình luận.
"Đây là lúc cần phải thẳng thắn với công chúng rằng không thể dự báo được động đất, và từ bỏ hệ thống dự báo ở vùng Tokai", Geller thêm.
"Toàn bộ Nhật Bản đều có nguy cơ bị động đất, và trình độ khoa học địa chấn ngày nay không cho phép chúng ta dự đoán được mức độ của nguy cơ tại một vùng địa lý cụ thể nào đó".

Admin

Thanks for joint