Tiêu Đề

Hiển thị các bài đăng có nhãn Khám Phá. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khám Phá. Hiển thị tất cả bài đăng

14/11/12

Giải mã biểu tượng bí ẩn trên sa mạc Gobi, Trung Quốc


Công trình bí ẩn tại sa mạc Gobi, Trung Quốc được GoogleMap phát hiện hồi năm ngoái có thể là kết quả của các cuộc khảo sát địa chất tìm kiếm mỏ nickel - Daily Mail dẫn lời các nhà nghiên cứu cho biết.
Amelia Carolina Sparavigna, một Giáo sư vật lý tại Politecnico di Torino ở Ý, lập luận rằng bản đồ bí ẩn trên sa mạc Taklamakan ở phía tây Trung Quốc "rõ ràng do con người tạo ra".
Cận cảnh cấu trúc hình vuông bí ẩn trên sa mạc Gobi.Cận cảnh cấu trúc hình vuông bí ẩn trên sa mạc Gobi.
Nhà khảo cổ học nghiệp dư đã đưa ra phỏng đoán trên sau khi nghiên cứu một đoạn dài 8km của công trình có hình vuông ở sa mạc nằm gần thị trấn huyện Nhược Khương bằng cách sử dụng vệ tinh của Google Earth.
Phóng to hình ảnh lên, bà Sparavigna nhận thấy hình vuông này gồm các ô vuông có diện tích khoảng 40m2. Chúng giống như các gò hoặc cấu trúc thô tương tự như thế và được sắp xếp như mặt ngoài của một chiếc lốp xe đạp khổng lồ.
Bản đồ vệ tinh còn cho thấy một kết cấu nhân tạo hình tròn trên sa mạc dường như được tạo ra bởi các lỗ tương đối nhỏ hoặc các gò.
Theo Giáo sư Sparavigna, chúng có thể là kết quả của các hoạt động nghiên cứu địa lý. Ngoài ra, cơ sở để bà tin rằng đó là kết quả của hoạt động khảo sát các mỏ quặng nikel là tuyên bố được phát hành gần đây của Trung Quốc về việc nước này phát hiện ra nguồn dự trữ quặng nikel khổng lồ lên tới 1,28 triệu tại đó.
Bà Sparavigna tin rằng các tấm bản đồ bí ẩn trên sa mạc Gobi là bằng chứng của một cuộc khảo sát địa chất toàn diện, bao gồm cả hoạt động đào hào và khoan lỗ lập bản đồ tiềm năng quặng.
Được biết, Giáo sư Sparavigna là người đi tiên phong trong hoạt động tiến hành khảo cổ học bằng vệ tinh của Google Earth. Bằng phương pháp này, bà đã tìm ra tàn tích của Loulan - một vương quốc cổ nằm trên con đường Tơ Lụa.

13/11/12

Lịch của người Maya không có ngày tận thế


Ngày cuối cùng của thời gian không tồn tại trong dạng lịch cổ nhất của người Maya, các nhà khoa học thông báo.

Lịch cổ nhất của người Maya được tạo nên bởi những chữ tượng hình. Nó tính toán thời gian theo chu kỳ của mặt trăng, sao Hỏa và sao Kim. Ảnh: AP.
Lịch cổ nhất của người Maya được tạo nên bởi những chữ tượng hình. Nó tính toán thời gian theo chu kỳ của mặt trăng, sao Hỏa và sao Kim. Ảnh: National Geographic.
Các nhà khảo cổ đang làm việc tại khu phế tích Xultun của người Maya ở phía đông bắc Guatemala phát hiện dạng lịch cổ nhất của người Maya trong một phòng nhỏ có diện tích hơn 18 m2. Ba trong số bốn bức tường của căn phòng được bảo quản khá tốt. Một bức tường lưu giữ những chữ tượng hình mô tả thời gian dựa theo các chu kỳ của mặt trăng, sao Hỏa và sao Kim. Theo các nhà khảo cổ, đây chính là dạng lịch cổ nhất của nền văn minh Maya mà giới khoa học từng phát hiện. Lịch này có niên đại chừng 1.200 năm, BBC đưa tin.
Ngoài ra các nhà khảo cổ còn thấy nhiều hình người trên bức tường phía đông của căn phòng. Những hình vẽ đó có kích thước gần bằng người thật. Tất cả hình người trên bức tường phía đông đều nhìn về phía một vị vua trên bức tường phía bắc.
Người Maya xây dựng lịch dựa trên các chu kỳ thiên văn. Khác với những tin đồn, dạng lịch cổ nhất của họ không hề dự đoán ngày tận thế.
"Lịch cổ nhất của người Maya được sử dụng để tính toán thời gian trong hàng tỷ năm nữa", David Stuart, một nhà khảo cổ của Đại học Texas tại Mỹ, phát biểu. Stuart đang làm việc tại khu phế tích Xultun. Ông và các đồng nghiệp đang cố gắng giải nghĩa những chữ tượng hình trên tường. Chúng bao gồm những dấu chấm và gạch.
Hình người được vẽ trên một bức tường trong căn phòng mà các nhà khảo cổ phát hiện trong khu phế tích Xultun tại Guatemala. Ảnh: National Geographic.
Hình người được vẽ trên một bức tường trong căn phòng mà các nhà khảo cổ phát hiện trong khu phế tích Xultun tại Guatemala. Ảnh: National Geographic.
Anthony Aveni, một nhà khảo cổ của Đại học Colgate tại Mỹ, cho rằng các nhà toán học và thiên văn sử dụng lịch trong căn phòng để dự đoán những kỳ trăng tròn trong tương lai. Những kỳ trăng tròn là thông tin quan trọng đối với thuật chiêm tinh và các nghi lễ tôn giáo của người Maya.
"Có thể các nhà khoa học của người Maya dùng lịch để dự đoán mùa màng và tư vấn cho nhà vua về thời gian mà ngài nên tiến hành chiến tranh", Aveni nhận định.
Người Maya, một bộ tộc thổ dân châu Mỹ, từng xây dựng một nền văn minh cổ đặc sắc từ năm 1.000 trước Công nguyên. Nền văn minh Maya đạt một trình độ cao về lĩnh vực xây dựng nhà nước và kiến trúc, toán học, thiên văn học.
Những di tích khảo cổ học chứng minh, người Maya đã phát triển khái niệm “số 0” vào năm 357, sớm hơn châu Âu gần 900 năm. Họ xác định chính xác độ dài của một năm - thời gian trái đất quay hết một vòng quanh mặt trời - chính xác hơn rất nhiều bộ lịch được châu Âu sử dụng vào thời đó. Không những thế, tôn giáo của người Maya cũng rất đặc biệt vì có sự kết hợp giữa lễ nghi với các chu kỳ của vũ trụ.

Đất trên sao Hỏa giống đất ở quần đảo Hawaii


Robot thăm dò tự hành Curiosity của Mỹ đã phân tích mẫu đất trên sao Hỏa và nhận thấy nó giống hệt đất ở bang Hawaii.

Kết quả phân tích của Curiosity cho thấy
Kết quả phân tích của Curiosity cho thấy đất trên sao Hỏa là loại đất bazan do núi lửa tạo ra. Ảnh: geek.com.
Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA) cho biết, thiết bị phân tích thành phần hóa học của robot, mang tên CheMin, đã lấy một số mẫu đất mịn trên sao Hỏa và phóng tia X vào chúng để phân tích thành phần hóa học. Dữ liệu về các mẫu đất sẽ giúp các nhà khoa học hiểu về lịch sử địa chất gần đây của hành tinh đỏ.
Đúng như dự đoán của giới khoa học, các mẫu đất được tạo ra từ những vụ phun trào núi lửa (đất bazan), giống như đất trên các đảo của bang Hawaii, Mỹ, BBCđưa tin. Ngoài ra chúng còn chứa cả những hạt bụi do bão thổi từ nơi khác tới.
Về mặt lý thuyết, phân tích đất có vẻ là thao tác đơn giản, song các kỹ sư của NASA cho biết nó là một quá trình phức tạp và họ cần nhiều thời gian để tìm ra cách tốt nhất để thực hiện nó.
Curiosity đáp xuống hành tinh đỏ vào ngày 5/8. Một trong những nhiệm vụ của Curiosity là tìm hiểu môi trường của núi Sharp trong giai đoạn núi hình thành. Ngoài ra nó còn phải tìm kiếm bằng chứng về sự tồn tại của vi khuẩn trong quá khứ của sao Hỏa. Nhiều bức ảnh do vệ tinh nhân tạo chụp cho thấy các lớp trầm tích dưới chân núi Sharp có thể chứa nhiều nước, loại vật chất thiết yếu đối với sự tồn tại của sinh vật sống.

Thành phố cổ nhất châu Âu lộ diện


Các nhà khảo cổ phát hiện một đô thị ở phía đông Bulgaria và họ khẳng định nó là thành phố ra đời đầu tiên tại châu Âu.

Một khu dân cư được tạo nên bởi những ngôi nhà hai tầng ở thành phố cổ
Một khu dân cư được tạo nên bởi những ngôi nhà hai tầng trong đô thị cổ gần thành phố Provadia, Bulgaria. Ảnh: AFP.
Giáo sư Vasil Nikolov, một nhà nghiên cứu của Viện Khảo cổ quốc gia Bulgaria, nói với AP rằng ông và các đồng nghiệp phát hiện một đô thị cổ gần thành phố Provadia. Những bức tường đá có chiều cao tới 3 m và độ dày 2 m bao quanh thành phố. Nhóm của Nokolov tin rằng đây là thành phố ra đời đầu tiên và có hệ thống phòng thủ lớn nhất tại cựu lục địa.
"Chúng tôi bắt đầu khai quật thành phố từ năm 2005, nhưng mới đây chúng tôi mới thu thập đủ bằng chứng để khẳng định sự tồn tại của nó", Nikolov cho biết.
Nhóm chuyên gia khảo cổ đã khai quật được một số ngôi nhà hai tầng trong một khu vực có đường kính khoảng 100 m. Một bức tường kiên cố vây quanh khu dân cư này. Ngoài ra họ còn tìm thấy hàng loạt hầm và tàn tích của một chiếc cổng.
"Kết quả xác định tuổi bằng phóng xạ đồng vị carbon cho thấy những công trình mà chúng tôi phát hiện được dựng lên từ khoảng 4.200 tới 4.700 năm trước Công nguyên, tức là hơn một thiên niên kỷ trước nền văn minh Hy Lạp cổ đại", Nikolov nói.
Nikolov nhận định khoảng 350 người sống trong thành phố cổ. Rất có thể họ kiếm sống bằng nghề làm muối rồi trao đổi hàng hóa với các bộ lạc lân cận.
"Trong nhiều thiên niên kỷ, muối là một trong những mặt hàng có giá trị nhất đối với con người. Rất có thể người xưa dựng những bức tường cao để ngăn chặn kẻ gian lấy muối", Nikolov bình luận.

Giải mã những hòn đá khổng lồ của đền Angkor


Biện pháp mà người xưa áp dụng để vận chuyển những khối đá sa thạch khổng lồ từ một chân núi để xây Angkor Wat là một bí ẩn trong vài trăm năm qua và mới được giải mã.

Vào thế kỷ 12, vua Suryavarman đệ nhị của đế quốc Khmer ra lệnh xây dựng một khu đền khổng lồ trên một khu đất có diện tích 500 hecta ở thủ đô Angkor. Ban đầu vua Suryavarman muốn xây khu đền để thờ thần Vishnu của đạo Hindu, nhưng các vị vua trong thế kỷ 14 lại quyết định biến nó thành khu đền thờ Phật giáo.
Nhiều nhà khảo cổ ngạc nhiên khi thấy khoảng 5 tới 10 triệu viên gạch sa thạch khổng lồ với khối lượng lên tới 1,5 tấn mỗi viên trong khu đền. Họ biết chúng tới từ những mỏ đá sa thạch ở một chân núi gần đền, nhưng không biết người xưa vận chuyển chúng bằng cách nào. Trước đây một số người đoán người xưa vận chuyển đá qua một kênh nước để đưa chúng qua hồ Tonle Sap bằng thuyền, sau đó họ chèo thuyền ngược dòng một sông để đưa chúng tới vị trí khu đền. Nhưng nếu họ vận chuyển theo lộ trình đó, những khối đá sẽ phải vượt qua khoảng 85 km để tới công trường.
Khu đền Angkor Wat được tạo nên bởi 5 tới 10 triệu viê gạch sa thạch
Khu đền Angkor Wat được tạo nên bởi nhiều viên sa thạch khổng lồ, với khối lượng của nhiều viên lên tới 1,5 tấn. Ảnh: blogspot.com.
Để tìm hiểu bí quyết của người xưa, Estuo Uchida, một nhà nghiên cứu của Đại học Waseda tại Nhật Bản, cùng các đồng nghiệp khảo sát khu vực xung quanh đền và phát hiện khoảng 50 kênh dẫn nước từ núi dọc theo một đê. Họ cũng phân tích những ảnh vệ tinh của khu vực đó và phát hiện hàng trăm con đường từ các kênh tới ngôi đền. Tổng chiều dài từ các kênh và các đường tới ngôi đền vào khoảng 35 km, ngắn hơn nhiều so với khoảng cách hơn 85 km nếu người xưa vận chuyển đá qua hồ và sông, Livescience đưa tin.
"Hệ thống kênh cho thấy những chuyên gia xây dựng thời xưa đã tạo ra lối tắt để giảm công sức và thời gian trong việc vận chuyển sa thạch từ chân núi tới khu đền. Đó là lý do khiến họ xây xong khu đền trong vài thập kỷ, một khoảng thời gian tương đối ngắn so với quy mô đồ sộ của khu đền", Uchida phát biểu.

Đế quốc Khmer bị diệt vong như thế nào?


Biến đổi khí hậu có thể là nguyên nhân gián tiếp dẫn tới sự sụp đổ của vương quốc Khmer tại Campuchia cách đây gần 600 năm.
Đền thờ Angkor Wat là một trong những di sản của đế quốc Khmer. Ảnh: wikipedia.org.
Đế quốc Khmer từng trải dài trên phần lớn lãnh thổ Đông Nam Á từ năm 801 tới năm 1400 trước khi biến mất đột ngột. Livescience khẳng định đây là một trong những nền văn minh vĩ đại nhất trong lịch sử loài người trước khi nó suy vong. Trong nhiều thập kỷ qua giới sử học đưa ra vô số lời giải thích về sự diệt vong của đế quốc Khmer. Một số chuyên gia cho rằng nguyên nhân là cuộc xung đột với các quốc gia khác, trong khi nhiều người khẳng định đế chế này bị tiêu diệt do đất đai thoái hóa.
Nhưng, theo Livescience, Brendan Buckley - một chuyên gia về khí hậu của Đại học Columbia, Mỹ đã tìm ra bằng chứng đáng tin cậy về việc đế quốc Khmer suy vong do thiếu nguồn nước dành cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt. Tình trạng đó khiến hệ thống thủy lợi quy mô lớn của Angkor - kinh đô của đế chế - tê liệt, trong khi hệ thống này rất quan trọng với nền kinh tế nông nghiệp. Thủ phạm gây nên tình trạng khan hiếm nước là hai đợt hạn hán nghiêm trọng do biến đổi khí hậu gây nên.
Buckley và các đồng nghiệp đã dựng lại bức tranh khí hậu trong khu vực xung quanh kinh đô Angkor của đế chế Khmer cổ bằng cách nghiên cứu những vòng tròn bên trong thân các cây bách tại một vườn quốc gia gần đó. Những vòng tròn cho thấy vương quốc này từng trải qua một đợt siêu hạn hán kéo dài tới ba thập kỷ - từ khoảng năm 1330 tới năm 1360. Sau đó đó vương quốc còn hứng chịu một đợt hán hán khắc nghiệt hơn nhưng ngắn hơn trong khoảng thời gian từ năm 1400 tới năm 1420. Buckley cho rằng hai đợt siêu hạn hán có thể khiến mùa màng thất bát và bệnh truyền nhiễm lan rộng – hai thảm họa đối với một đất nước có mật độ dân số lớn. Thế rồi tới năm 1431, vương quốc sụp đổ sau một cuộc tấn công của nước Xiêm (Thái Lan ngày nay).
“Vào thời đó kinh đô Angkor đối mặt với hàng loạt vấn đề xã hội, chính trị và văn hóa. Sự thay đổi lớn của môi trường đã đẩy người dân Khmer tới giới hạn cuối cùng trong khả năng chịu đựng và họ không thể thích nghi được với thay đổi ấy. Tôi không nói biến đổi khí hậu là nguyên nhân trực tiếp khiến nền văn minh Khmer cổ sụp đổ, nhưng chắc chắn một đợt hạn hán kéo dài tới 30 năm phải gây nên một tác động nào đó”, Buckley phát biểu.
Nhóm của Buckley cũng tìm thấy bằng chứng về những mùa mưa mạnh khiến hệ thống thủy lợi của kinh đô Angkor bị phá hủy. Trong mùa mưa bình thường, hệ thống thủy lợi khổng lồ - gồm kênh rạch, đê, hồ chứa nước – của Angkor có thể chịu được lượng mưa lớn. Nhưng sau một đợt siêu hạn hán kéo dài, hệ thống ấy có thể bị hủy hoại.
Các chuyên gia cho rằng El Niño, được tạo nên bởi sự ấm lên của dòng nước ấm ở phía đông Thái Bình Dương khiến một lượng hơi nước rất lớn bay vào không khí, cũng đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn những mùa mưa ở khu vực xung quanh Angkor khiến hạn hán kéo dài.
“Chúng ta cần nhớ rằng các nền văn minh vẫn có thể bị tổn thương trước biến động của khí hậu”, Kevin Anchukaitis, một thành viên trong nhóm nghiên cứu, phát biểu.
Nhiều nghiên cứu trước đây chứng tỏ rằng những thay đổi đột ngột về môi trường có thể đẩy các nền văn minh cổ tới tình trạng diệt vong. Nền văn minh của người Anasazi ở phía tây nam nước Mỹ, đế chế của người Maya ở Trung Mỹ và vương quốc Mesopotamia (phía tây nam châu Á ngày nay) của người Akkadian là những nền văn minh biến mất vì biến đổi khí hậu.

Giải mã những hình vuông bí ẩn trên sa mạc Trung Quốc


Những hình vuông khổng lồ trên một sa mạc ở phía tây Trung Quốc là một bí ẩn trong suốt hai năm qua và mới đây một nhà khoa học Italy đã xác dịnh được nguồn gốc của chúng.

Những chấm tròn tạo thành các
Những chấm tròn tạo thành các ô vuông trên sa mạc Taklamakan ở phía tây Trung Quốc. Ảnh:Google Map.
Vào năm 2010, Amelia Carolina Sparavigna, một nhà vật lý của Đại học Bách khoa Turin tại Italy, phát hiện những hình vuông khổng lồ trên sa mạc Taklamakan ở phía tây Trung Quốc sau khi phân tích ảnh từ vệ tinh của dịch vụ Google Map. Mỗi hình vuông được tạo nên bởi nhiều chấm tròn. Nếu nhìn từ trên không trung, chúng tạo thành một thứ giống như bàn cờ khổng lồ. Sau khi Sparavigna công bố phát hiện này, nhiều nhà khoa học đã cố gắng tìm hiểu những hình khối kỳ lạ, song họ chưa tìm ra bản chất của chúng, Livescience cho biết.
Từ năm 2010 tới nay, Sparavigna vẫn tiếp tục nghiên cứu các ảnh vệ tinh về "bàn cờ" khổng lồ. Bà nhận thấy dường như những chấm tròn là hố hoặc gò đất.
"Có lẽ người ta tạo ra những hố và gò đất để phục vụ các hoạt động nghiên cứu địa chất", Sparavigna phát biểu.
Thế rồi Sparavigna tìm thấy một bài báo tiếng Trung kể về việc các nhà địa chất phát hiện các mỏ nickel lớn bên dưới những đụn cát trên sa mạc Taklamakan. Bà kết luận rằng các nhà địa chất Trung Quốc đã đào nhiều hố trên sa mạc để thăm dò trữ lượng nickel bên dưới bề mặt sa mạc. Họ hất đất thành nhiều đống ngay cạnh các hố.
Sparavigna cho rằng các chính phủ nên lập dữ liệu về các hình khối kích thước lớn do con người tạo nên trên khắp hành tinh.
"Theo ý kiến của tôi, dữ liệu đó sẽ giúp các chuyên gia dự đoán trước hoạt động khai khoáng và sự phát triển của một khu vực nào đó", bà nói.

Bọt biển giống đàn hạc


Ở độ sâu khoảng 3 km dưới mặt nước biển, các nhà khoa học vừa phát hiện loài bọt biển có hình dạng giống đàn hạc.


Bọt biển trên được tìm thấy ở vịnh Monterey, bang California, Mỹ. Đàn hạc là nhạc cụ thuộc bộ dây có số dây rất lớn tương đương piano và là một trong những dụng cụ âm nhạc có nguồn gốc lâu đời nhất trên thế giới.
Bọt biển thuộc ngành động vật đa bào nguyên thuỷ, có cấu trúc tế bào tách biệt và sinh sống ở biển. Chúng là loài động vật đơn giản và nguyên thủy nhất, có những mô khác nhau nhưng không có cơ, hệ thần kinh, cơ quan bên trong, hay khả năng vận động. Bọt biển thường ăn bằng cách hút nước qua các lỗ chân lông.

Thêm một 'siêu trái đất' lộ diện


Những điều kiện khí hậu phù hợp với sự sống có thể tồn tại trên một hành tinh cách trái đất 42 năm ánh sáng.

Hình minh họa HD 40307g, hành tinh nằm xa nhất trong số 6 hành tinh xoay quanh ngôi sao HD 40307. Ảnh: Space.
HD 40307g, tên của hành tinh mới được phát hiện, cùng 5 hành tinh khác xoay quanh một ngôi sao cách trái đất 42 năm ánh sáng, nghĩa là con người có thể quan sát nó bằng kính thiên văn trong tương lai. Ngôi sao, có tên HD 40307, nhỏ hơn và có độ sáng thấp hơn so với mặt trời, Space đưa tin.
Khoảng cách giữa hành tinh và HD 40307, tên của ngôi sao, là 90 triệu km. Đây là hành tinh xa nhất so với ngôi sao, song với khoảng cách 90 triệu km, nước có thể tồn tại trên bề mặt hành tinh ở dạng lỏng.
"Quỹ đạo của một hành tinh càng dài thì khả năng nuôi dưỡng sự sống của nó càng lớn", Hugh Jones, một nhà thiên văn của Đại học Hertfordshire tại Anh, phát biểu. Ông cùng một số đồng nghiệp đã phát hiện HD 40307g.
Nhiều hành tinh luôn hướng một mặt của chúng về phía ngôi sao trong quá trình di chuyển nên một nửa hành tinh có nhiệt độ rất cao, trong khi nửa kia rất lạnh. Nhưng các nhà thiên văn nhận định rằng HD 40307g di chuyển giống như trái đất.
“Siêu trái đất” là những hành tinh đá xoay quanh ngôi sao riêng trong “vùng Goldilocks” – nơi nhiệt độ không quá nóng hoặc quá lạnh, mà chỉ ở mức vừa phải để nước có thể tồn tại ở dạng lỏng. Sự tồn tại của nước ở dạng lỏng là điều kiện để sự sống phát sinh và phát triển. Vì thế người ta có thể gọi hành tinh mới là một "siêu trái đất".
Theo tính toán của Cơ quan Vũ trụ châu Âu, khoảng 100 “siêu trái đất” đang xoay quanh những ngôi sao lùn đỏ cách địa cầu dưới 30 năm ánh sáng.
Đối với vũ trụ, khoảng cách đó chỉ tương đương khoảng cách mà một con bọ chét đạt được trong một cú nhảy trên địa cầu. Nhưng với công nghệ hiện nay, nhân loại chưa thể nghĩ tới việc thám hiểm những “siêu trái đất”.

Phát hiện hành tinh có thể nuôi dưỡng sự sống


Các nhà thiên văn Mỹ hôm qua tuyên bố họ vừa tìm thấy một hành tinh gần bằng trái đất và có nhiều điều kiện thích hợp để sinh vật sống tồn tại.
Hình minh họa hành tinh
Hình minh họa hành tinh Gliese 581g và ngôi sao lùn đỏ Gliese 581 cách trái đất 20 năm ánh sáng. Ảnh: buffalonews.com.
AFP cho hay các nhà thiên văn của Đại học California và Viện Carnegie tìm thấy hành tinh nói trên trong quá trình theo dõi một ngôi sao lùn đỏ có tên Gliese 581. Họ đặt tên nó là Gliese 581g. Đây là hành tinh giống trái đất nhất mà con người từng tìm thấy. Hành tinh nằm trong vùng không gian thích hợp cho sự sống, nghĩa là không quá gần và cũng không quá xa ngôi sao riêng.
Nước và khí quyển là hai yếu tố cần thiết cho sự tồn tại của sinh vật sống trên mọi hành tinh. Nếu hành tinh ở vị trí quá xa ngôi sao, nhiệt độ bề mặt của nó sẽ cực thấp khiến nước không thể tồn tại ở dạng lỏng mà biến thành băng. Trong trường hợp hành tinh ở vị trí quá gần ngôi sao, nhiệt độ bề mặt của nó sẽ lớn đến nỗi nước liên tục bốc hơi. Cả băng và hơi nước đều không thể nuôi dưỡng sự sống.
Gliese 581g có khối lượng gấp từ 3 tới 4 lần địa cầu song nó chỉ xoay quanh ngôi sao lùn đỏ trong gần 37 ngày. Theo giáo sư Steven Vogt - một nhà thiên văn của Đại học California – khối lượng của Gliese 581g cho thấy nó có thể là một hành tinh đá và lực hấp dẫn của nó đủ lớn để giữ không khí trên bề mặt.
Nếu Gliese 581g chứa đá giống trái đất, đường kính của nó sẽ gấp từ 1,2 tới 1,4 lần trái đất. Lực hút bề mặt của nó có thể tương đương hoặc lớn hơn một chút so với địa cầu nên con người có thể đứng thẳng và bước dễ dàng trên đó.
Các nhà khoa học tìm thấy Gliese 581g và một hành tinh nữa sau 11 năm theo dõi sao lùn đỏ Gliese 581. Ngôi sao này chỉ cách địa cầu 20 năm ánh sáng.
Đối với giới thiên văn, 11 năm là quãng thời gian ngắn ngủi và 20 năm ánh sáng (gần 188 triệu km) là khoảng cách gần. Mặt trời cách trái đất khoảng 8 phút rưỡi ánh sáng.
“Việc chúng tôi phát hiện Gliese 581g quá nhanh và vị trí gần trái đất của nó cho thấy những hành tinh như thế khá phổ biến trong vũ trụ”, Vogt phát biểu.
Một phía của Gliese 581g luôn hướng về ngôi sao lùn đỏ nên nhận ánh sáng liên tục. Phần còn lại chìm trong bóng tối vĩnh cửu.
Nếu con người đặt chân lên hành tinh đó, chúng ta sẽ thấy rằng, càng tới gần vùng tối vĩnh cửu thì nhiệt độ càng giảm. Tuy nhiên, vùng giáp ranh giữa phần sáng và phần tối của Gliese 581g mới là nơi mà sinh vật sống có thể tồn tại. Các nhà khoa học cho rằng nhiệt độ bề mặt của hành tinh có thể dao động từ mức âm (ở phía có bóng tối vĩnh cửu) tới mức khiến nước sôi (ở phía có ánh sáng).
Trước đó các nhà thiên văn Mỹ đã tìm thấy 4 hành tinh khác xung quanh ngôi sao Gliese 581. Đây là hệ hành tinh khá giống hệ Mặt Trời, bởi các hành tinh xoay quanh ngôi sao theo quỹ đạo gần tròn.

Hàng loạt xương voi ma mút lộ diện tại Serbia


Các nhà khảo cổ Seriba vừa phát hiện xương của ít nhất 7 con voi ma mút tại một mỏ than.

Giới khoa học chưa từng phát hiện bất kỳ nghĩa trang voi ma mút nào. Ảnh:
Giới khoa học chưa từng phát hiện bất kỳ nghĩa trang voi ma mút nào. Ảnh: journallive.co.uk.
Những mẩu xương voi ma mút, bao gồm một chiếc ngà có chiều dài gần 2 m, được phát hiện tại mỏ than Kostolac – nơi cách thủ đô Belgrade khoảng 70 km, AFPđưa tin.
Miomir Korac, trưởng nhóm chuyên gia khảo cổ, nói rằng họ đã đào được 7 bộ xương voi ma mút, trong đó 6 bộ xương nằm ở cùng độ sâu.
Ba năm trước những mẩu xương của một con voi ma mút cái cũng được phát hiện tại mỏ Kostolac. Kết quả phân tích cho thấy con voi này từng sống cách đây hơn một triệu năm. Các mẩu xương mới được phát hiện có niên đại nhỏ hơn nhiều – khoảng cách có thể lên tới 100.000 năm – và thuộc về một loài voi ma mút khác.
“Điều đó có nghĩa là những con voi ma mút sống ở khu vực khai quật trong khoảng thời gian khá dài. Đối với chúng tôi, dấu hiệu ấy cho thấy mỏ Kostolac có thể là một nghĩa trang của voi ma mút”, Korac nói.
Giới khoa học chưa từng tìm thấy bất kỳ nghĩa địa voi ma mút nào. Vì thế mỏ Kostolac có thể là nghĩa trang voi ma mút đầu tiên mà con người từng biết.
Hoạt động khai thác vẫn đang diễn ra tại mỏ than Kostolac. Vì thế công việc của những nhà khảo cổ gây có thể thiệt hại khoảng một triệu USD.
“Ý tưởng của chúng tôi là tăng tốc độ khai quật và làm việc cả ngày lẫn đêm. Nhưng chính phủ sẽ phải sớm đưa ra quyết định về số phận của mỏ than”, Korac phát biểu.
Voi ma mút là một chi voi cổ đại đã tuyệt chủng cách đây chừng 10.000 năm. Lông của chúng dài (lên tới 50 cm) và rậm hơn so với voi hiện đại. Ngà của voi ma mút dài và cong. Chân của chúng chỉ có 4 ngón, trong khi chân của voi hiện đại có 5 ngón. Do chân sau của voi ma mút ngắn nên trọng tâm của toàn thân nghiêng về phía sau, còn vai của chúng nhô cao.

Hóa thạch khủng long mới ở Canada


Giới khoa học vừa phát hiện hóa thạch loài khủng long ăn cỏ được cho là nguyên thủy nhất được tìm thấy ở Canada.

Loài khủng long có sừng Xenoceratops. (Nguồn: mashable.com)
Loài khủng long có sừng Xenoceratops. Ảnh: LiveScience.
Hóa thạch được xác định của loài khủng long có sừng Xenoceratops, dài hơn 6 mét, mỏ giống mỏ vẹt, hai sừng dài, gai mọc trên lưng và nặng hơn hai tấn.
Một tuyên bố đăng trên tạp chí "Khoa học trái đất Canada" số ra tháng trước cho biết, Xenoceratops có nghĩa là "mặt sừng lạ" chuyên ăn cỏ, ở phía nam tỉnh Alberta, cách thành phố Calgary khoảng 400 km. Những chiếc sừng Xenoceratops cho phép giới nghiên cứu xác định nó là một loài khủng long có sừng thân lớn mới.
Theo Tiến sĩ Michael Ryan, tác giả của nghiên cứu trên, Xenoceratops là loài khủng long ăn cỏ nguyên thủy nhất được tìm thấy tại Canada. Phát hiện về một trong những loài cổ nhất của khủng long có sừng cung cấp cho các nhà khoa học ý tưởng về cách thức tiến hóa của loài này. Bắt đầu từ 80 triệu năm trước, loài khủng long có sừng lớn ở Bắc Mỹ đã trải qua một sự bùng nổ về tiến hóa.
Đồng tác giả của nghiên cứu, tiến sĩ David Evans thuộc Viện bảo tàng Hoàng gia Ontario cho hay, hình dạng chiếc sừng sẽ cho biết khủng long đủ trưởng thành và tìm bạn đời hay chưa.
Việc tìm ra hóa thạch của loài khủng long có sừng là một nỗ lực cộng tác kéo dài hơn 50 năm của dự án khủng long Nam Alberta. Dự án nhằm khám phá thời kỳ đồ đá 80 triệu năm trước và cách thức xuất hiện các loài khủng long.

29/2/12

Bộ lạc biệt lập ở Peru

Các cuộc chạm trán tình cờ gần một bộ lạc biệt lập trong vùng rừng Amazon đã thu được những bức ảnh chi tiết nhất về bộ lạc này cho tới nay.



Các thành viên của bộ lạc Mashco-Piro.

Survival International (SI), một tổ chức có trụ sở tại London (Anh) chuyên vận động nhằm bảo vệ các bộ lạc thiểu số, đã công bố các bức ảnh của bộ lạc Mashco-Piro, sinh sống gần Công viên quốc gia Manu ở đông nam Peru.
Bộ lạc Mashco-Piro hầu như không có liên hệ nào với thế giới bên ngoài, nhưng họ bị bắt gặp ngày càng nhiều.
SI cho rằng sự xuất hiện của các dự án dầu mỏ và khí đốt và hoạt động đốt phá rừng trái phép trong khu vực đã đẩy bộ lạc tới các vùng đất mới.

Người bộ lạc Mashco-Piro ăn mặc khá đơn giản.
Tuy nhiên, thông điệp mà Mashco-Piro dường như muốn gửi đi là họ muốn được sống đơn độc.
“Xung đột và bạo lực đã gia tăng nhằm vào những người ngoài cuộc xuất hiện trên đất đai do tổ tiên của họ để lại”, Rebecca Spooner, một nhà hoạt động người Peru của SI, nói.
Bạo lực bao gồm các mũi tên bị bắn vào khách du lịch trên những chiếc thuyền đi ngang qua, và một mũi tên cảnh báo - không có đầu nhọn - gần đây đã bị bắn về phía một nhân viên bảo vệ công viên Manu.

Bộ lạc Mashco-Piro bên bờ sông tháng 8/2011.
Gần đây nhất, các thành viên của bộ lạc đã bắn một cung tên nhằm chết người vào Nicolas "Shaco" Flores - thành viên của một bộ lạc khác vốn đã nỗ lực liên lạc chính thức với Mashco-Piro trong khoảng 2 thập niên.
Một bản tường trình về vụ tấn công từ nhà nhân loại học Glenn Shepard cho thấy bộ lạc Mashco-Piro sợ thiết lập quan hệ với thế giới bên ngoài xung quanh họ.
Nhà nhân loại học Tây Ban Nha Diego Cortijo đã sử dụng một kính viễn vọng đặt trên một chiếc camera để chụp các bức ảnh về bộ lạc Mashco-Piro và đây cũng là những bức hình chi tiết nhất từng được thực hiện cho tới nay về các bộ lạc biệt lập như vậy.

Vùng rừng Amazon ở Nam Mỹ, nơi được cho là có nhiều bộ lạc biệt lập sinh sống.
Bà Spooner cho rằng sự gia tăng bạo lực có thể được giảm bớt bằng cách bảo tồn vùng đất truyền thống của các bộ lạc địa phương. 
“Chúng tôi đang đề nghị chính phủ Peru hành động nhiều hơn nữa để bảo vệ vùng đất đó, nơi nên được dành riêng cho các nhóm biệt lập”, bà nói.

23/2/12

Bí ẩn âm thanh kỳ lạ ở nơi linh thiêng nhất nước Anh

Từ lâu, người ta vẫn luôn tin rằng, vòng tròn đá Stonehenge bí ẩn được người xưa xây dựng với chức năng là nơi tiến hành các nghi lễ thờ cúng thần linh.
http://www.discoveryvn.tk/2012/02/tiet-lo-ong-troi-ve-ai-thien-van.html

Mới đây, các nhà khảo cổ học đã khám phá ra một điều thú vị khác về khu vực linh thiêng nhất của nước Anh này. Theo đó, Stonehenge có thể là nơi mà người cổ đại tạo ra một thứ ảo giác âm thanh.
Tiến sĩ Steven Waller, chuyên gia nghiên cứu về đặc tính âm thanh tại các di chỉ cổ đại giải thích: nếu có hai người cùng thổi sáo trong khu vực này, thì khi đi bộ quanh Stonehenge, bạn sẽ nghe thấy một thứ âm thanh hết sức kỳ lạ. Các sóng âm thanh phát ra từ phía mỗi người chơi sẽ loại trừ lẫn nhau, tạo ra điểm âm thanh khác biệt.
Vòng tròn đá Stonehenge bí ẩn.
Vòng tròn đá Stonehenge bí ẩn.
Tuy giả thuyết chỉ mang tính chất suy đoán, nhưng kết quả thử nghiệm cho thấy cách bố trí vòng tròn đá Stonehenge thực sự mang lại một loại ảo giác thính giác.
Mặt khác, lý thuyết này cũng được hỗ trợ bởi một truyền thuyết kể lại rằng, xưa kia, đây là nơi sinh sống của 2 con người có yêu thuật. Stonehenge được tạo ra để họ cùng với những cây sáo của mình, có thể mê hoặc và dẫn dụ các thiếu nữ đến nhảy nhót và sau đó biến họ thành đá. Do vậy, Stonehenge còn được mệnh danh là “những hòn đá biết thổi sáo”.
Để tiến hành thí nghiệm, các tình nguyện viên được yêu cầu đi lại quanh khu vực này với đôi mắt bị bịp kín trong khi 2 người khác thổi sáo. Họ sẽ thông báo với Waller bất cứ khi nào họ nghĩ rằng có một vật cản nào đó đang tồn tại giữa họ và tiếng sáo.
Trên thực tế, họ không hề gặp bất kỳ chướng ngại vật nào, nhưng những “điểm chết” âm học được tạo ra bởi hiện tượng âm thanh bị nhiễu sóng khiến cho các tình nguyện viên nghĩ rằng có.
“Họ đã chỉ ra cấu trúc, lối đi và các khe hở của vật cản mà họ cảm nhận được, và thật thú vị khi những gì họ chỉ ra đều khá giống Stonehenge”, Waller nói.
Waller tin rằng, những người xây dựng Stonehenge hơn 5.000 năm trước có thể đã biết đến thứ ảo giác này. Mặc dù nghiên cứu này vẫn chưa thể giải quyết bí ẩn của Stonehenge, nhưng nó góp phần làm nổi bật tầm quan trọng của âm thanh trong các khám phá khảo cổ học.

Tiết lộ “động trời” về đài thiên văn Stonehenge


Cuối cùng, những bí ẩn về đài đá thiên văn cổ Stonehenge ở miền Nam nước Anh đã có lời giải.
Một nhóm nhà khảo cổ học tin rằng, công trình đá cự thạch có niên đại hơn 5000 năm ở Anh, Stonehenge, có thể được dựng lên để làm nơi thờ Mặt trời.
Sử dụng công nghệ hình ảnh địa vật lý và quan sát radar từ trên không, nhóm nhà khoa học ở Đại học Birmingham, Trung tâm Công nghệ không gian, Viện Khảo cổ học Ludwig Boltzmann và Viện Khảo cổ học ở Vienna, phát hiện ra 2 hố lớn ở vị trí hàng rào đá của công trình Stonehenge.
Hai hố này rộng hơn 16 feet (hơn 4 mét), sâu 3 feet (gần 1 mét), nằm ở phía bắc Stonehenge, dựng trước tượng đài thời tiền sử đến 500 năm.
Hai lỗ lớn xuyên từ đông sang tây ở vách đá Stonhenge là nơi thờ thần mặt trời.
Hai lỗ lớn xuyên từ đông sang tây ở vách đá Stonhenge là nơi thờ thần mặt trời.
“Đây là lần đầu phát hiện ra điều này. Khi nhìn từ hòn đà bí ẩn Heel Stone đứng ngay ngoài lối vào Stonehenge, những cái hố giống như dấu hiệu của việc chào đón Mặt trời mọc lên vào giữ trưa hè”, Vince Gaffney, một nhà khảo cổ học từ Đại học Birmingham, đứng đầu dự án nghiên cứu cho biết.
Theo các nhà khảo cổ, các hố có thể chứa đá cao tầng, cột gỗ hoặc thậm chí bị cháy để đánh dấu mặt trời mọc. Các nhà nghiên cứu suy đoán nhiều khả năng, nó được sử dụng trong nghi lễ ăn mừng sự di chuyển của Mặt trời trong ngày hạ chí.
“Có thể đó là nghi lễ trong hàng rào Cursus theo đường đi của Mặt trời di chuyển từ hố ở phía đông vào lúc bình minh đến hố phía tây vào lúc hoàng hôn, đánh dấu ngày dài nhất của năm”, ông Gaffney nói.
Giả thuyết này càng có sức thuyết phục hơn khi các nhà nghiên cứu đo khoảng cách giữa 2 hố này. Họ phát hiện ra, nghi lễ sẽ kết thúc chính xác từ hố đông sang hố tây vào lúc giữa trưa, khi mặt trời lên đỉnh Stonehenge.
Các hố xuất hiện trong hàng rào Cursus cho thấy, khu vực Stonehenge, là công trình có nhiều chức năng phức tạp ở Anh vào thời kỳ đồ đá mới và thời đại đồ đồng. Nó mang những ý nghĩa thiêng liêng trước khi xây dựng các vòng tròn đá bí ẩn.
Trước đó, công trình này đã được lý giải bởi nhiều giả thuyết. Có người cho rằng, nó phục vụ chiến tranh, hoặc là công trình do người khổng lồ tạo ra, thậm chí là tác phẩm của người ngoài hành tinh.
Còn các nhà khoa học trong nghiên cứu trên tin rằng, những cấu trúc của Stonehenge giống như các đền thờ nhỏ, có thể là trung tâm phục vụ nghi lễ của cộng đồng. Nhóm nghiên cứu vẫn tiếp tục hy vọng sẽ phát hiện ra nhiều điều mới kỳ bí về công trình này trong khi tiếp tục thực hiện dự án.thờ thần mặt trời.

Bí mật bên trong đầu lâu các xác ướp thế kỷ 19


Các nhà khoa học Ý đã phân tích, chụp CT đầu các xác ướp thế kỷ 19 tại bảo tàng xác ướp, và tìm thấy nhiều bí mật liên quan đến cách ướp xác thời kỳ này.
Những xác ướp đó đã được nhà giải phẫu học Giovan Battista Rini (1795-1856) bảo quản bằng cách “hóa đá” bằng cách tắm các xác ướp trong một hỗn hợp thủy ngân và các kim loại nặng khác.
Những chiếc đầu và bán thân xác ướp từ những năm 1800 ở các tiểu bang khác nhau đang chuẩn bị được quét CT tại 1 bệnh viện gần Salò, Ý.
Bí mật bên trong đầu lâu các xác ướp thế kỷ 19
Bí mật bên trong đầu lâu các xác ướp thế kỷ 19
Chiếc đầu kỳ quái của một phụ nữ thế kỷ 19 với đôi mắt và bộ tóc dài giả.
Đây là đầu xác ướp một người đan ông vẫn còn các mạch máu tươi. Nghiên cứu mới cho biết, xác ướp này được bảo quản bằng cách ngâm trong bồn hóa chất và tiêm thủy ngân cùng các khoáng chất khác vào trong mô cơ thể.
Bí mật bên trong đầu lâu các xác ướp thế kỷ 19
Chụp CT đã cho thấy rõ hình ảnh lát cắt vỏ não xác ướp. Qua phân tích, các nhà khoa học tìm thấy một số lượng lớn thủy ngân trong các bộ phận của xác ướp. Ngoài ra còn có kali, sắt, barium và asen.
Bí mật bên trong đầu lâu các xác ướp thế kỷ 19

Còn đây là đầu xác ướp hơn 150 năm tuổi. Không giống với các xác ướp bằng cách hóa đá sử dụng các khoáng chất, tế bào mô xác ướp này lại được lấp đầy bằng polyme.

5/2/12

Những bí ẩn được khám phá trong năm 2011


Sau nhiều nỗ lực, giới khoa học cũng tạm hài lòng khi cuối cùng đã giải thích được một số hiện tượng bí ẩn trong năm 2011.

UFO ở Jerusalem
Chỉ vài tuần sau khi thế giới chào đón năm 2011, nhiều người bất ngờ trước đoạn băng được cho là quay cảnh UFO (vật thể bay không xác định) quần đảo bên trên nhà thờ đá linh thiêng của Jerusalem.
Lúc đó là vào ngày 28.1. Sau khi tận mắt xem đoạn băng, ai nấy đều phải gật gù công nhận rằng đây có thể là đoạn băng quay được UFO xuất sắc nhất từ trước đến nay, vì nó lọt vào ống kính của ít nhất 2 người trong cùng thời điểm, nhưng khác góc độ.
 
Hình ảnh một UFO - Ảnh chụp lại từ video clip

Khi các đoạn video tràn lan trên mạng, giả thuyết về UFO đột nhiên sống dậy và những người tin rằng có sự tồn tại của trí thông minh ngoài trái đất được dịp hãnh diện với mọi người rằng: “Thấy chưa, tôi đâu có sai".
Tuy nhiên, sau đó các kết quả phân tích cho thấy những video này là đồ giả mạo, dù lý luận của họ không thuyết phục được ngay những người đã lỡ đặt niềm tin quá nhiều vào UFO.
Cuối cùng đến tháng 3, thậm chí ngay cả MUFON, tổ chức chuyên theo đuổi chứng cứ về vật thể lạ ngoài trái đất, cũng đồng ý rằng ai đó đã chơi khăm cả thế giới.
Cậu bé nam châm
Trong khi internet vẫn còn đang xôn xao bàn tán về UFO ở Jerusalem, một câu chuyện kỳ lạ khác đã nhanh chóng chiếm lĩnh cộng đồng mạng vào tháng 2, lần này tin đồn xuất phát từ Serbia.
Một cậu bé 7 tuổi tên Bogdan đã trở thành tin tức nóng hổi trên toàn cầu sau khi các bức ảnh cho thấy dường như cậu sở hữu được quyền năng khác thường là hít được đồ đạc trong nhà.
Theo trang tin MSNBC và Daily Mail, các vật dụng trong gia đình như muỗng, dao, nĩa cứ dính chặt lên da cậu bé mà không cần có lực khác tác động. Ngạc nhiên hơn nữa là không những vật dụng bằng kim loại mà cả các vật làm từ chất liệu khác như dĩa nhỏ và đồ vật phẳng làm từ thủy tinh cũng không ngoại lệ.
Chính điều đó đã khiến nhiều chuyên gia trăn trở, không giải thích được vì sao, cho đến khi có người nhận ra rằng những đồ vật này sẽ dính tốt trên làn da trần của Bogdan, do ảnh hưởng của sự ma sát đơn thuần giữa da và vật thể. Và muỗng, nĩa còn dính chặt hơn nữa nếu da lấm tấm mồ hôi.
Sinh vật ngoài hành tinh ở Nga
Vào tháng 4, sau khi những người tin vào UFO tạm nguôi ngoai cảm giác thất vọng trước đoạn băng về UFO tại Jerusalem, tin đồn thi thể người ngoài hành tinh được phát hiện tại Nga lại nổi sóng trên internet.

Xác người ngoài hành tinh giả mạo gây xôn xao cộng đồng mạng -  Ảnh: YouTube

Tờ Daily Mail dẫn lại một câu chuyện miêu tả cứ như thật về đoạn băng đang lan tràn lên mạng, thu hút hàng trăm ngàn người xem và theo dõi sự tình sau đó.
Theo đó, thi thể của một sinh vật bị hư hại nặng nề có bề ngoài giống nhân vật ET trong phim ngoài hành tinh, với chiều cao khoảng 60 cm. Một phần chân phải bị mất và 2 lỗ sâu hoắm ở vị trí của mắt và miệng.
Thiên hạ cứ đua nhau bàn tán rầm trời trong suốt vài tuần, cho đến khi hai thiếu niên người Nga lên tiếng thú nhận xác ET chẳng qua là sản phẩm được chúng nhào nặn nhằm tạo tin đồn để được nổi tiếng.
Cuối cùng, cảnh sát lôi “sinh vật ngoài hành tinh” này khỏi gầm giường của một trong hai kẻ thích chơi khăm thiên hạ này.
Quái vật Gevaudan
Trong số những con quái vật được cho là lang thang khắp nơi trên trái đất, có lẽ không con nào đáng sợ hơn một sinh vật bí ẩn đã khủng bố vùng nông thôn của Pháp từ những năm 1760.
Quái thú vùng Gevaudan, như dân địa phương thường gọi, bị cho là hết sức tàn ác, sát hại không chừa một ai từ tá điền, nông dân, người chăn cừu và thường để lại thi thể nạn nhân trong tình trạng không rõ hình hài.
Bộ mặt thật của con quái thú này thường là kết quả của nhiều suy đoán khác nhau trong suốt 2 thế kỷ. Nhiều người cho rằng nó là ma sói, trong khi không ít người đoan chắc rằng nó phải là một thế lực siêu nhiên nào đó (dựa trên các huyền thoại cho rằng không thể ngăn chặn quái thú bằng súng đạn). Một số người thì nghi ngờ chắc đây là tác phẩm của một tên sát nhân hàng loạt.
Bí ẩn này đã được kể lại không biết bao nhiêu lần, và nó thậm chí xuất hiện trên màn ảnh trong bộ phim kinh dị Brotherhood of the Wolf vào năm 2001.
Đến năm 2011, cuối cùng bí mật cũng được khám phá, nhờ vào công của sử gia Jay M. Smith. Ông đưa ra nhiều chứng cứ để kết luận rằng thủ phạm gieo rắc sự kinh hoàng trong suốt nhiều năm tại Pháp thật ra là sói dữ.
Quỷ hút máu dê Chupacabra
Quái vật vùng Gevaudan không chỉ là bí mật về yêu quái duy nhất đã được giải đáp trong năm 2011.
Kể từ giữa những năm 1990, nhiều người trên thế giới, đặc biệt tại Puerto Rico và các quốc gia Mỹ La-tinh, đã đua nhau truyền miệng về một con quỷ hút máu cực kỳ quái đản, được đặt tên là chupacabra (tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là hút máu dê, do con vật này hút sạch máu những gia súc nhỏ, trong đó có cả dê).
Theo chứng nhân đầu tiên, chupacabra có 2 chân, cao từ 1,2 đến 1,5m và hàng gai nhọn chạy dọc suốt sống lưng. Con quái này có chân tay thon dài, với cái đầu giống như sinh vật ngoài hành tinh.
Sau đó, những con mà người ta nghi là chupacabra đã được tìm thấy tại Mỹ, hầu hết ở Texas và New Mexico. Hóa ra quái vật đâu chẳng thấy, mà chúng chỉ là những con chó, cáo và chó sói đồng cỏ bị mắc bệnh dại.
Mặc dù một mực khăng khăng rằng mình đã tận mắt thấy chupacabra, những nhân chứng đầu tiên vỡ lẽ ra sự thật và buộc phải thừa nhận họ đã lẫn lộn quái vật trên phim ảnh với đời thực.

9/8/11

10 địa danh thần bí nhất quả đất


- Nhiều chuyên gia nổi tiếng cho rằng những khu vực bí ẩn trên khắp thế giới được tạo nên nhờ vào những nền văn minh sở hữu kiến thức và công nghệ tiên tiến đã bị thất lạc.
 
Nhiều người khác lại không tin rằng từng có nền văn minh nào trên trái đất lại tiến bộ đến như vậy và mọi nền kiến thức cao siêu đều được các phi hành gia cổ đại trao lại cho chúng ta. Hầu hết các nhà khoa học đều không thể đưa ra được lời giải thích thỏa đáng cho những điều bí ẩn từ thời xa xưa.
 
Dưới đây chính là 10 địa danh thần bí nhất quả đất mà chưa ai lý giải nổi:
 
1. Kim tự tháp Giza và nhân sư Sphinx (Ai Cập)
 
Mặc dù đây rõ ràng là những kim tự tháp được sử dụng để chôn cất vua chúa, nhưng cấu trúc, ngày giờ xây dựng, và biểu tượng kim tự tháp ở Giza vẫn hoàn toàn là một dấu hỏi lớn. Chính sự bí ẩn càng làm tăng phần thu hút cho kì quan cổ đại này, nhiều người thời nay vẫn xem Giza như một nơi thần thánh. Đã có rất nhiều thuyết giải thú vị được đưa ra để giải thích cho “bí ẩn kim tự tháp”. Thậm chí, những khách tham quan hoài nghi nhất cũng không thể không ngỡ ngàng trước độ tuổi, quy mô hoành tráng, và bài toán hài hòa của những kim tự tháp ở Giza.
2. Stonehenge (Anh Quốc)
 
Đây là một trong những công trình nổi tiếng nhất thế giới nằm tại khu vực Wiltshire, Anh. Stonehenge là một tượng đài được hình thành bởi nhiều tảng đá lớn xếp hình vòng tròn khổng lồ. Nhiều người cho rằng công trình này được xây dựng từ năm 2500 Trước Công Nguyên nhưng đã được khôi phục và sửa sang lại trong suốt hơn 1400 năm. Mặc dù có rất nhiều suy đoán, nhưng không ai biết mục đích chính của di tích thời tiền sử này là gì và nó vẫn là một trong những bí ẩn lớn nhất của nhân loại.
3. Đảo Phục sinh (Chile)
 
Đảo Phục sinh, hay còn được biết dưới cái tên Rapa Nui hoặc Isla de Pascua, là một hòn đảo của người Polynesia nằm ở phía Đông Nam Thái Bình Dương. Nơi đây nổi tiếng với những bức tượng dị thường được tạo ra bởi người Rapanui. Các bức tượng này, còn được gọi là Moai, là một phần trong tục thờ cúng tổ tiên của người dân của đảo này và chúng được chạm khắc từ khoảng năm 1250-1500 thời Trung Cổ. Moai nặng nhất đã bị xói mòn có trọng lượng 86 tấn, thể hiện chiến công lẫy lừng đối với người Rapanui vì họ có thể tạo ra và di chuyển được những bức tượng này. Gần một sửa số Moai còn lại vẫn ở Rano Raraku, mỏ Moai chính, nhưng hàng trăm tượng còn lại đã bị chuyển đến những bục đá quanh vành đai của đảo.
4. Baalbeck (Li-băng)
 
Baalbeck là một thành phố ở phía Đông Li-băng. Năm 331 trước Công Nguyên, khi Hi Lạp đến xâm chiếm, Baalbeck mới chỉ là một thị trấn phồn vinh. Lebanon đã trở thành thuộc địa của người Rome dưới Đế chế Augustus từ năm 16 trước Công Nguyên. Trong suốt ba thập kỉ sau đó, người Rome đã xây dựng một quần thể tượng đài gồm 3 ngôi đền, 3 sân vườn, và một bức tường rào quanh được dựng từ những tảng đá vĩ đại nhất do con người tự tạo. Một số du khách tin rằng công trình này chỉ có thể là kiệt tác từ ngoài hành tinh. Tại cổng vào phía Nam của Baalbeck là một quần thể khác, ở đây những tảng đá trong đền đều bị cắt gọt. Một khối đá khổng lồ, được xem như tảng đá lớn nhất bị “mổ xẻ”, hiện vẫn nằm nguyên vị trí từ cách đây 2000 năm trước. Nó còn có tên gọi là “Đá phụ nữ mang thai”, kích thước là 21,5m x 4,8m, x 4,2m và nặng khoảng 1.000 tấn.
5. Machu Picchu (Peru)
 
Machu Picchu là thành phố được bảo tồn nguyên vẹn nhất từ Đế chế Inca, nằm trên một quả núi có chóp nhọn ở độ cao 2.430m, thuộc Thung lũng Urubamba tại Peru, cách khoảng 70 km về phía tây bắc Cusco. Từng bị thế giới lãng quên trong suốt nhiều thế kỉ, Machu Picchu đã được tái khám phá bởi nhà khảo cổ học Mỹ Hiram Bingham vào năm 1911. Các tảng đá trong thành phố này được xếp rất khít nhau đến nỗi lưỡi dao cũng không thể lọt qua. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Machu Picchu được xây dựng từ năm 1450 thời Trung Cổ dành cho người thống trị Inca là Pachacuti.
6. Đường kẻ Nazca (Peru)
 
 
Một trong số những kiến trúc địa lý nổi tiếng nhất thế giới khác là các đường kẻ Nazca trên sa mạc Nazca ở Peru. Từ trên không nhìn xuống, có thể thấy rõ nhưng đường kẻ này tạo ra khoảng 300 hình thù khác nhau, có hình dáng của những con vật và con chim khổng lồ được khắc họa trên mặt cát sa mạc.
 
7. Tiahuanacu (Bolivia)
 
 
Tihuanacu (hay Tiwanaku) là một bí ẩn lớn cho khoa học bởi độ tuổi (được ước tính khoảng 17.000 tuổi) và công nghệ đá đặc biệt của nó. Người ta từng cho rằng Tiahuanaco là thánh điện để thờ cúng thánh thần và là điểm tập trung văn hóa, giúp lan truyền qua nhiều khu vực xung quanh. Người cổ đại đã xây dựng một kim tự tháp bằng đá được gọi là Akapana.
8. Chichen Itza (Mexico)
 
 
Chichen Itza là địa điểm khảo cổ của một thành phố cổ xưa do người Maya xây dựng. Nơi đây chứa đựng vô số những phong cách kiến trúc đa dạng như El Castillo (đền thờ của Kukulkan) và đền thờ của Warriors. Chichen Itza là một thành phố rộng lớn, được xây bởi một bộ tộc Maya là Itzaes trong thế kỷ thứ 9 sau Công nguyên và phát triển như một thủ đô trong khu vực chính cho tới thế kỷ thứ 12. Nguồn gốc thực sự của người Itza vẫn còn bí ẩn.

9. Những quả cầu đá bí ẩn của Costa Rica
 

Một trong những bí ẩn lạ lùng nhất trong khảo cổ học được phát hiện ở đồng bằng sông Diquis, Costa Rica. Từ những năm 1930, hàng trăm quả cầu bằng đá được tìm thấy có đường kính từ vài cm đến hơn 2m, một số có nặng tới 16 tấn. Hầu hết trong số chúng được làm từ granodiorite - loại đá hỏa sinh cứng. Những quả cầu lớn này là tác phẩm điêu khắc bằng đá nguyên khối được thực hiện bởi bàn tay của con người.

10. Thành phố dưới nước ở Nhật Bản
 
Nằm ở bờ biển phía Nam của Yonaguni, Nhật Bản, tàn tích ngập dưới nước này được ước tính khoảng 8.000 năm tuổi. Mặc dù, một số người tin rằng nó được hình thành bởi hiện tượng địa lý nhưng cho tới nay người ta xác nhận nó là sản phẩm nhân tạo bởi nghệ thuật khắc trổ phức tạp. Nó được phát hiện vào năm 1995 bởi một thợ lặn thể thao bị lạc khỏi bờ biển Okinawa với một máy quay phim trong tay.

Admin

Thanks for joint